Danh mục sản phẩm

Dịch vụ

Tin tức - Sự kiện

Video clip

video 1
video 1
video 1
video 1
video 1
video 1
video 1

SEA PHÂN BÓN KỲ LẠ - TÁC DỤNG VỚI NẤM KHUẨN

Ngày đăng: (13-12-2017 09:43 AM) - Lượt xem: 252

1.       SEA  là gì ?

 

Sản phẩm SEA là một sản phẩm theo đường hướng sinh học hữu cơ , tránh sử dụng các chất dinh dưỡng hóa học thường thấy trong các loại phân bón thông thường như :            

 N ( đạm ) P ( lân ) K ( kali ) . Điều này nhằm tránh cho môi trường đất và cây trồng chịu tác động xấu của các chất hóa học thường có trong phân bón vô cơ .

            SEA được điều chế bỡi một phương pháp độc đáo , kỹ thuật cao , hoạt chất chính là một loại chất hữu cơ được nhập khẩu từ Hoa Kỳ . Chất hữu cơ này được chiết xuất từ thực vật và khoáng vật bao gồm : 78 chất khác nhau có tính chất đặc biệt đối với hoạt động của đất và của cây trồng . Khi được điều chế với phương pháp của công ty Nguyễn Thanh Hải thì sẽ có tác dụng rất mạnh mẽ , chuyên biệt giúp cây trồng và môi trường đất được phát triển bền vững và hiệu quả rất cao .

            SEA được hiểu là :

-          SEA = Biển = Hải ( tên người làm ra sản phẩm  )

-          SEA  :  Substance ( Bền vững , mạnh mẽ  ) – Environment ( Bảo vệ môi trường ) – Activeness ( Hiệu quả , năng động )

-          SEA  :  Soil Enrichment Advisor (  Chuyên gia cho đất màu mỡ ) .

 

2./  SEA điều kỳ lạ thứ nhất : Là phân bón nhưng  không chứa NPK , không kich thích sinh trưởng ( GA , IAA .. ) , không có vi sinh .

 

            Xu hướng đang phổ biến trong canh tác là sử dụng các loại dinh dưỡng mang nguồn gốc vô cơ tổng hợp từ các hóa chất . Nó có công năng lớn , tác dụng nhanh nhưng cũng mang đến sự ô nhiễm đất nặng nề , làm cây trồng mất sức đề kháng . Phân bón có thể tạm chia thành các loại như sau :

                        a./ Phân có nguồn gốc vô cơ : ure , sulphat amon . kaliclorua , vi lượng ..

                        b./ Phân có nguồn gốc hữu cơ : phân chuồng , phân gia cầm , than bùn , phân compost …

                        c./ Phân vi sinh : có chứa vsv , nấm men

                        d./  Phân hữu cơ có chứa vsv .

                        e./  Phân chứa các loại kích thích tố có nguồn gốc từ hóa học , trích xuất từ thực vật , động vật , khoáng vật .

                        f./ Phân bón chứa các hợp chất hữu cơ thiên nhiên có tác dụng cải tạo môi trường đất , tăng sức đề kháng cho cây , tạo sự phát triển bền vững thông qua con đường huy động và cung cấp dinh dưỡng một cách tự nhiên , tự chống chọi với sâu bệnh hại bằng chính hệ thống miễn dịch của cây trồng .

SEA là một phân bón đi theo xu hướng đó .

 

3./ SEA kỳ lạ thứ hai :  Cải tạo môi trường đất và làm cây phát triển tốt  , trong khi các loại phân khác chỉ nhằm làm cây phát triển nhanh và làm đất bị chai .

Tại sao bón nhiều phân vô cơ (hoá học) trong một thời gian dài làm đất thoái hoá ?

Hệ thống sinh thái đất bao gồm hai phần chính sau đây: 

a, Thành phần lý, hoá học: Với hai thành phần quan trọng là keo đất và dung dịch đất. Quá trình chuyển hoá và trao đổi ion giữa keo đất và dung dịch đất là yếu tố quyết định cho việc cung cấp chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng.

Ngoài ra lý, hoá tính của đất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tơi xốp, thoáng khí của đất từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến thành phần sinh học đất.

b, Thành phần sinh học: Bao gồm vi khuẩn đất với các chức năng chính là: Ký sinh, cộng sinh, hoại sinh phân giải và tổng hợp khoáng. Ngoài ra còn có các loại nấm, tuyến trùng, xạ khuẩn, động vật đơn bào, côn trùng, trùn đất và bộ rễ cây trồng.

Dưới tác dụng của phân vô cơ được sử dụng với liều lượng cao trong một thời gian dài dung dịch đất thường rất giàu dinh dưỡng dưới hai dạng: Hoà tan và trao đổi ion. Tác dụng gây chua sinh lý của một số phân vô cơ cũng như quá trình trao đổi ion và rửa trôi đã đưa vào trong dung dịch đất một số ion gây chua (hydro, sắt, nhôm, sulfat,… ). Hậu quả  là làm thành phần sinh học của đất bị xáo trộn, thành phần loài sinh vật, vi sinh vật đất có khuynh hướng ngày càng nghèo nàn và mất cân bằng.

Quá trình suy thoái về tính đa dạng của thành phần sinh học đất sẽ tác động tiêu cực đến tính chất lý, hoá học của đất. Sự suy giảm của trùn đất và các tập đoàn vi khuẩn giữ các chức năng phân huỷ chất hữu cơ, thúc đẩy quá trình khoáng hoá, mùn hoá, cộng sinh , làm đất ngày càng kém tơi xốp và giảm dung dịch hấp thu dưỡng chất; tính năng thông khí cũng giảm đi, khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng của đất rất kém từ đó làm cho hiệu quả sử dụng phân bón vô cơ ngày càng thấp nên chúng ta phải bón phân vô cơ tăng dần theo từng năm làm cho giá thành sản xuất nông nghiệp tăng.

Sự nghèo nàn về loài sinh vật và giàu dinh dưỡng dễ tiêu trong một thời gian ngắn thường dẩn đến sự bùng nổ về số lượng của một số loài vi khuẩn, nấm, tuyến trùng, côn trùng hại cây trồng, đặc biết trong điều kiện sử dụng phối hợp nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật bằng hoá học vào trong đất.

Khi bón phân vô cơ trong nhiều năm sẽ thúc đẩy những tác động qua lại giữa thành phần lý, hoá học và thành phần sinh học trong đất như trên làm cho đất  ngày càng có chiều hướng thoái hoá.

            Cơ chế tác động của SEA vào đất như thế nào ?

 

Có 3 hiệu ứng khi bón SEA vào đất :

            a./ Hiệu ứng bậc thềm :  SEA chứa các yếu tố có tính kích thích các chelate hữu cơ trong đất được phát sinh mạnh mẽ gấp nhiều lần tự nhiên ( chelate hữu cơ có nhiều vai trò quan trọng trong dinh dưỡng đất và cây trồng ) , đồng thời nó cũng làm các amino acid đang ở trạng thái bất hoạt trở nên năng động . Quá trình này dẫn đến sự giàu Oxy trong đất , làm gia tăng đạm và hydro tạo điều kiện cho các chuỗi phản ứng trong đất xảy ra mạnh mẽ dẫn đến các hiệu ứng khác  do đó nó được mang tên là bậc thềm .

            b./ Hiệu ứng Oxy hóa – khử : Đây là hiệu ứng quan trọng , mang tính quyết định cho việc tăng cường dinh dưỡng dễ  tiêu cho môi trường đất . Hiệu ứng này xảy ra với sự có mặt của vi sinh vật đóng vai trò xúc tác . Khi hiệu ứng bậc thềm xảy ra , vi sinh vật được sự kích hoạt mạnh , đồng thời các chất dinh dưỡng đang có trong đất ở dạng khó tiêu được phóng thích từ đó dẫn đến các phản ứng oxy hóa khử tăng , phản ứng tăng thì dinh dưỡng dễ tiêu nhiều lên ở cả hai trạng thái : sử dụng ngay và chờ .

            c./ Hiệu ứng gia tăng năng lượng sinh học : Do có sự hiện diện dồi dào của oxy và nước , các chất dinh dưỡng khó tiêu bắt đầu được phóng thích ( hiệu ứng bậc thềm ) cho nên số lượng và chủng loại vsv có ích tăng lên nhanh chóng . các hoạt động của hệ vsv  và sinh vật phong phú này dẫn đến gia tăng năng lượng sinh học của đất . Năng lượng sinh học bao gồm : năng lượng do quá trình bài tiết + năng lượng do quá trình hô hấp + năng lượng do quá trình tăng sinh khối . các dạng năng lượng này do từ hoạt động của : vsv + thực vật trong đất + động vật trong đất .

Năng lượng sinh học càng cao dẫn đến đất càng màu mỡ và được mạnh khỏe .

            d./ Hiệu ứng năng lượng đất được hoạt hóa :  Do các phản ứng trong đất được gia tăng , hoạt động của vsv đất , động vật trong đất gia tăng nên dẫn đến năng lượng đất nói chung được tăng lên rất nhiều . Năng lượng đất chính là thước đo sự màu mỡ của đất giúp cây trồng sinh trưởng , phát triển khỏe mạnh cho năng suất và chất lượng tốt một cách tự nhiên bền vững .

            Các hiệu ứng trên giúp cho quá trình cân bằng khoáng hóa và mùn hóa luôn luôn có ở trong đất .

 

4./  SEA kỳ lạ thứ Tư : Làm cho số lượng sinh vật đất gia tăng , chưa có đến có , từ ít đến nhiều , đặc biệt làm phát sinh nhiều trùn đất .

 

             Như đã nói ở trên , SEA  tạo ra và làm gia tăng các hiệu ứng có lợi trong đất , đây là điều kiện lý tưởng cho sự phát sinh , phát triển các loại sinh vật đất sinh sôi và tìm đến ; trong đó đặc biệt là trùn đất . Đây là loại sinh vât vô cùng hữu ích với canh tác nông nghiệp . Từ ngàn xưa , đất có nhiều trùn là đất tốt . Thực nghiệm cho thấy , khi sử dụng SEA trong thời gian từ 2 – 5 tháng , đất trở nên tơi xốp và có rất nhiều trùn đất .

 

5./ SEA kỳ lạ thứ Năm :  Là phân bón nhưng lại có tác động đến việc giảm sâu bệnh và không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật độc hại .

 

            Phần lớn sâu bệnh hại đều có nguồn gốc từ đất hay có liên quan đến môi trường đất .

            SEA bằng những tác động trong đất đã làm cho đất :

-          Cải thiện độ pH tăng dần theo hướng trung tính , không thích hợp cho sự sinh trưởng và hoạt động của nấm bệnh .

-          Làm đất tơi xốp , thoáng khí , gia tăng một cách phong phú các vsv và sinh vật đất . Đây là yếu tố làm hạn chế sâu bệnh từ đất .

-          Gia tăng độ dày vách tế bào giúp cây chống chịu tốt với sâu bệnh .

 

-          Tăng cường hệ miễn dịch của cây .

-          Hoạt chất hữu cơ từ thực vật của SEA bằng việc cố định với dung môi theo công nghệ riêng đã làm hạn chế sự phát triển của sâu bệnh trên cây .

 

6./ SEA kỳ lạ thứ Sáu : Khi sử dụng SEA giảm sử dụng phân bón hóa học nhưng năng suất không giảm mà ngày càng tăng một cách bền vững .

 

            Trong khuyến cáo của mình , SEA đề nghị nên giảm ngay từ 50% -70% lượng phân hóa học từ lúc sử dụng SEA mà năng suất sẽ không bị ảnh hưởng . Ngoài ra SEA  còn giúp cho cây trồng đạt năng suất cao dần qua thời gian sử dụng , thông thường là qua 1-3 vụ sử dụng .

            Lý giải cho điều này thật hết sức đơn giản : bằng các hiệu ứng do SEA đem lại như đã nêu ở trên ( hiệu ứng bậc thềm – hiệu ứng Oxy hóa khử - hiệu ứng sinh học – hiệu ứng hoạt hóa năng lượng đất ) cho nên SEA được xem như chiếc chìa khóa mở các kho dự trữ và tái tạo dinh dưỡng của đất . Tuy nhiên ở đây có một vấn đề được nêu ra : nguồn dinh dưỡng sẽ lấy từ đâu trong khi chúng ta lại giảm đi 50% -70% lượng phân bón vô cơ đưa vào đất ? Thậm chí sau vài năm sử dụng SEA liên tục , lượng phân bón vô cơ có thể giảm bằng 0 . Giải thích cho điền này , chúng ta nên tham khảo các thông tin sau : Theo GS.TSKH LÊ HUY BÁ , một chuyên gia hàng đầu về môi trường đất của VN : Đất sẽ được bổ sung dinh dưỡng hàng năm qua các vật chất hữu cơ dưới dạng mùn theo bảng sau :

 

 

STT

   Nguồn hữu cơ ( mùn ) được hoàn trả cho đất

 

 Khối lượng  tấn / Ha / năm

1

Từ các động vật trong đất ( 250.000 – 5.000.000 cá thể )

  50  - 380

2

Từ thực vât trên mặt đất : Đồng cỏ

  >/=  25

3

Từ thực vật trên mặt đất : Rừng nhiệt đới – rừng tập trung

  500

4

Từ rơm rạ ( theo số liệu nghiên cứu của ĐH Cần Thơ )

 17,5 / vụ

5

Từ vi sinh vật đất , thực vật trong long đất

20 kg – 1 tấn

 

 

Qua đó , nếu giả thiết cho đất được hoàn trả bình quân 100 T hữu cơ / Ha / năm thì lượng N,P,K nguyên chất bình quân có trong 1 tấn ( 1.000 kg ) hữu cơ sẽ là : N : 330 kg ( 0,33 % ) – P 330 kg ( 0,33 % ) – K : 330kg ( 0,33 % ) . ngoia2 ra còn có nhiều nguyên tố trung lượng và vi lượng .  Lượng dinh dưỡng này là khá cao so với nhu cầu hàng năm của các loại cây trồng , do đó nếu đất chúng ta giữ cho không bị ô nhiễm hóa chất , cây trồng phát triển tốt , sinh khối đủ , vi sinh vật và sinh vật đất có điều kiện phát triển thì chúng ta không sợ phải thiếu dinh dưỡng . Đất sẽ trở thành kho chứa và cung cấp dinh dưỡng của cây . SEA sẽ là chìa khóa cho cây trồng mở các kho dinh dưỡng đó .

 

7./ SEA kỳ lạ thứ Bảy : Lượng sử dụng ít nhưng hiệu quả cao .

 

Thông thường định mức phân bón hóa học cho cây trồng vào khoảng : 60g/m2 – 120g / m2 ( với cây trồng cạn ) và 40g/m2 – 80g/m2 ( lúa ) . Ngoài ra chưa tính đến lượng thuốc bảo vệ thực vật khá lớn . Tuy nhiên với SEA , định mức tiêu hao trên m2 cho tất cả các cây trồng là : 0,5 ml / m2 ( với tỷ trọng của SEA thì tương đương 6g / m2 ) . Điều này có nghĩa : với lượng dùng ít hơn rất nhiều nhưng SEA lại mang đến hiệu quả cao hơn .

            Do các tác động đã nêu ở các phần trên , SEA dù có sử dụng bón vào đất với lượng rất ít so với các loại phân bón khác ( bằng 1/10 – 1/20 ) và thời gian sử dụng trong đất chỉ có 1 lần cho 3-4 tháng nhưng hiệu quả đem lại rất to lớn . Đây là một điều có lợi cho nhà nông : vừa tiết kiệm tiền , thời gian , công sức mang vác , không độc hại cho người , không gây ô nhiễm đất và nguồn nước – nhưng lại mang đến hiệu quả cao .

            Vậy tại sao ta lại không sử dụng SEA ? 

Hỏi & Đáp SẢN PHẨM SEAfu:

TẠI SAO VÀ NHƯ THẾ NÀO?

                        1./  Tại sao SEAfu lại có khả năng khống chế các loại nấm bệnh ? 

Trong thành phần của SEAfu có các thành phần chính sau : 

-          Garlic oil ( dầu tỏi ) .         - Chất béo                   - Dung môi . 

Tác dụng của Garlic oil : 

  • Chất alicine có trong dầu tỏi rất dễ kết hợp với gốc SH của một acid amin là Cystein để hình thành một hợp chất . Gốc SH được xem là nhân tố có tính kích thích quan trọng trong sự sản sinh của vsv và tế bào . Do đó , alicine có tác dụng ức chế sự sản sinh của tế bào nấm nói riêng và quần thể nấm nói chung . 
  • Nấm tiết ra các enzyme thủy phân và các acid để phân giải các chất hữu cơ nhất là lignin và cellulose là thành phần của vách tế bào , đây là cơ chế phá hoại của nấm đối với cây trồng . Trong các enzyme , cơ chế hoạt động được quyết định bởi các Trung tâm hoạt động . Trung tâm hoạt động là những mạch polypepitd nằm kề bên nhau lien kết nhau tạo thành . Các mạch này lien kết nhờ sự kết hợp của các nhóm chức của các acid amin . Thường gặp là : -SH ( của Cystein ) –OH ( của Serin ) –wCOOH ( của Aspartic và Glutamic ) – COOH ( của các acid amin cuối mạch,… )  

Alicine rất dễ mất O2 để kết hợp với các nhóm chức của các acid amin , điều này làm mất tính năng hoạt động của Trung tâm hoạt động của enzyme . 

Tác dụng của chất béo : 

  • Ngoài tính năng tăng cường tính bám dính trên bề mặt cho sản phẩm , chất béo còn có một tác dụng nữa là làm cho sự hoạt động của nấm bị hạn chế .  

Nấm hoạt động mạnh mẽ được là nhờ những biến đổi hình thái để thích nghi cao với môi trường . Nấm có vách tế bào với thành phần chính là Chitine và nó được điều chỉnh để hút dinh dưỡng từ môi trường một cách hiệu quả nhất bởi chúng đều có tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích cao . Sự thích nghi này được bổ sung bởi những enzyme thủy phân . Tuy nhiên do sự bao phủ rộng dạng màng do chất béo tạo ra , do đó nấm sẽ bị mất đi ưu thế của việc có diện tích bề mặt cao so với thể tích của chính nó . 

Tác dụng của dung môi : 

  •  Dung môi của SEAfu là dung môi không phân cực và có tính kiềm khá cao . 

Nấm hoạt động được là nhờ các trung tâm hoạt động có bản chất protein của các enzyme do nấm tiết ra . Các enzyme này sẽ bị hạn chế và mất tác dụng trong các trường hợp sau : 

-          Dễ bị biến tính trong môi trường acid hay baz . 

-          Tan trong nước và các dung môi hữu cơ phân cực nhưng lại không tan trong ete và các dung môi không phân cực . 

Do đó , dung môi của SEAfu chính là tác nhân làm cho các enzyme thủy phân của nấm không hoạt động được trong điều kiện có sự hiện hiện của sản phẩm . 

Kết luận : Sự khống chế và tiêu diệt của sản phẩm SEAfu đối với nấm bệnh là một cơ chế tổng hợp nhiều tác nhân . Sự khống chế này mang tính tự nhiên bởi những hợp chất có từ tự nhiên . Nó mang đến sự an toàn cho sức khỏe khi sử dụng , không dựa trên các tác nhân hóa chất tổng hợp có tính hủy diệt tức thời nhưng lại rất độc và hay tạo nên tính kháng của nấm khi sử dụng lâu dài . 

 

CÔNG TY TNHH AGRI THIÊN PHÚ : TRỤ SỞ BÌNH PHƯỚC

ĐC: 119 ẤP3 - MINH LẬP - CHƠN THÀNH - BÌNH PHƯỚC

0981.39.00.77 - 0868.028.028

CUNG CẤP, TƯ VẤN SẢN PHẨM SINH HỌC SEA

 

 

 

Các tin liên quan:

Facebook chat