Danh mục sản phẩm

Dịch vụ

Tin tức - Sự kiện

Video clip

video 1
video 1
video 1
video 1
video 1
video 1
video 1

Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

Ngày đăng: (29-12-2016 10:11 AM) - Lượt xem: 506
Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
 

1. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng kinh tế thị trường hiện đại trong các đơn vị, ngành, vùng đã hình thành. Đồng thời, từng bước chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít người lên sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu tập trung, nhằm đáp ứng được nguồn cầu về nông sản của thị trường trong nước và thế giới theo hướng số lượng ngày càng nhiều, chủng loại ngày càng đa dạng, chất lượng ngày càng cao, giá ngày càng rẻ, trong đó chất lượng nông sản là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.

Thời gian qua, nông nghiệp Việt Nam đã cung cấp một khối lượng lớn nông sản hàng hóa cho thị trường trong nước và thế giới. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới trong năm 2011 (7 triệu tấn) và có nhiều mặt hàng nông sản đứng thứ hạng cao trên thị trường quốc tế, tuy nhiên, chất lượng nông sản chưa cao, độ an toàn vệ sinh thực phẩm còn là vấn đề bức xúc. Do đó, trong giai đoạn 2011 - 2020, vấn đề nâng cao chất lượng nông sản, đặc biệt là chất lượng nông sản cho xuất khẩu phải rất được quan tâm để bảo đảm sự sống còn của nông sản xuất khẩu. Những đòi hỏi khắt khe về khối lượng, chủng loại, chất lượng, nhất là về độ an toàn vệ sinh thực phẩm, mẫu mã và kích cỡ, hương vị, màu sắc, thời gian giao hàng... của thị trường quốc tế cũng là một thách thức lớn mà nông nghiệp Việt Nam cần phải vượt qua.

Để nâng cao chất lượng nông sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, trước hết cần đổi mới cách tiếp cận với thị trường, đó là cung cấp những sản phẩm căn cứ vào nhu cầu của thị trường chứ không phải từ khả năng có của Việt Nam, nên cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng những yêu cầu này.

Tiếp đến, phải áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiên tiến ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng, nuôi, chăm sóc đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, bảo quản, chế biến và trong khâu lưu thông phân phối đến người tiêu dùng.

Phải tổ chức quản lý tốt việc tổ chức, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, tránh chạy theo lợi nhuận mà xem nhẹ chất lượng.

2. Tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản.

Tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và tăng năng suất ruộng đất là một chiến lược phù hợp với phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian qua cũng như trong giai đoạn tiếp theo. Để thực hiện chiến lược này cần đưa công nghệ hiện đại vào nông nghiệp, trong đó chú trọng áp dụng những tiến bộ của công nghệ sinh học.

Chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc nâng cao giá trị sản xuất trên một héc-ta canh tác là rất đúng đắn. Có một thực tế là, năng suất lúa của tỉnh Thái Bình khá cao so với năng suất của cả nước, nhưng giá trị ngày lao động vẫn rất thấp. Tương tự điều này cũng xảy ra ở nhiều vùng cà phê, kể cả vùng cà phê tập trung ở Tây Nguyên khiến nông dân cũng bị rơi vào cảnh thua lỗ hoặc có lợi nhuận quá thấp. Từ thực tiễn sản xuất đó, đòi hỏi cần có một sự tính toán khoa học để giảm chi phí, hạ giá thành nông sản, tăng giá trị tối đa trên một đơn vị diện tích ruộng đất. 

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải có bước đi phù hợp trong chiến lược tăng năng suất lao động trong nông nghiệp nước ta. Cụ thể, trong điều kiện nông nghiệp Việt Nam hiện nay, chúng ta chỉ nên thực hiện cơ giới hóa ở một số khâu nhất định phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi ở một số vùng và vào lúc thời vụ thiếu lao động (như trong các khâu thủy lợi, làm đất, thu hoạch, vận chuyển...).

3. Hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước. 

Lợi thế so sánh của nông nghiệp Việt Nam chính là nền nông nghiệp nhiệt đới có pha trộn ít nhiều khí hậu á nhiệt đới và ôn đới trải khắp từ Nam ra Bắc và từ vùng thấp lên vùng cao, với địa hình đa dạng (gồm biển, đồng bằng, trung du, miền núi), nhiều loại đất đai, mặt nước khác nhau, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Tất cả điều đó cho phép phát triển một nền nông nghiệp toàn diện có chất lượng cao. Tuy nhiên, phát triển nền nông nghiệp toàn diện ở đây không có nghĩa là chúng ta sẽ sản xuất mỗi thứ một ít để tiêu dùng mà phải phát triển trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa để có khối lượng nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. 

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, hình thành được nhiều đơn vị sản xuất, ngành, vùng sản xuất hàng hóa lớn, như: ngành sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, ngành cao su ở Đông Nam Bộ, ngành cà phê ở Tây Nguyên, ngành chè ở trung du miền núi phía Bắc, ngành trồng rau, hoa ở Đà Lạt và quanh các thành phố lớn, ngành cây ăn trái và ngành nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long... Tuy vậy, cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện nay còn nhiều nhược điểm, cần được hoàn thiện.

Cụ thể, nếu theo nghĩa rộng, cơ cấu nông nghiệp bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, thì tỷ trọng ngành thủy sản những năm qua tăng nhanh, ngược lại, tỷ trọng ngành lâm nghiệp giảm. Trong giai đoạn 2011 - 2020, phải nâng cao giá trị lâm nghiệp tương xứng với tiềm năng của nó bằng cách bảo vệ, bảo tồn, phát triển lâm nghiệp bền vững, khai thác rừng một cách khoa học, chuyển mạnh sang thâm canh, đa dạng hóa sở hữu, đổi mới tư duy, nhận thức đúng về tác dụng toàn diện của lâm nghiệp trong việc phát triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm linh, môi trường sinh thái.

Đối với ngành thủy sản, kết hợp hợp lý giữa khai thác và nuôi trồng, lấy nuôi trồng làm trục chủ yếu, phát triển ngành chế biến và dịch vụ để tạo ra hệ thống bốn trục lớn trong ngành thủy sản là khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ, trong đó cần quan tâm thích đáng đến trục dịch vụ vì hiện nay khâu này chủ yếu phụ thuộc nước ngoài, rất không có lợi cho thủy sản Việt Nam phát triển.

Nếu theo nghĩa hẹp thì cơ cấu ngành nông nghiệp bao gồm hai ngành trồng trọt và chăn nuôi. Thời gian qua mối quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt và chăn nuôi đã thay đổi theo hướng tích cực, tỷ trọng trồng trọt giảm, tỷ trọng chăn nuôi đã tăng, song, ngành chăn nuôi vẫn còn hết sức nhỏ bé, chưa trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp bởi chăn nuôi chủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán trong các hộ gia đình. Vì thế, giai đoạn tới, phải phát triển mạnh ngành chăn nuôi theo hướng chăn nuôi công nghiệp, hình thành các trang trại chăn nuôi tập trung với quy mô thích hợp. Khuyến khích chăn nuôi gia đình chuyển lên thành chăn nuôi tập trung ở những địa bàn được quy hoạch thích hợp. Muốn thế rất cần Nhà nước có những chính sách hỗ trợ cho ngành chăn nuôi, đặc biệt trong việc phòng trừ dịch bệnh.

Đối với ngành trồng trọt, tiếp tục phát triển lúa gạo để bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời có nhiều gạo xuất khẩu, nhưng vẫn cần phải quan tâm hơn nữa đến các loại cây hoa màu, lương thực, rau, hoa, quả. Đưa ngành trồng cây ăn trái lên thành ngành xuất khẩu lớn, chuyển ngành trồng cây công nghiệp lên thâm canh cao. Cùng với việc đó, phát triển một số cây trồng, vật nuôi mới, như trồng cây nguyên liệu cho ngành năng lượng sinh học, nuôi cá nước lạnh và các vật nuôi đặc sản khác.

4. Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến.

Công nghiệp chế biến nông sản hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Tới khoảng 80% nông sản xuất khẩu còn ở dưới dạng thô, sơ chế. Nông sản đã qua chế biến không những chiếm tỷ lệ nhỏ mà chất lượng còn chưa cao, do đó đạt giá trị thương phẩm thấp.

Ngoài ra, có một thực tế là nhiều nhà máy chế biến hiện không được sử dụng hết công suất do vùng nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến nông sản chưa vững chắc. Ví dụ, ngành chế biến mía đường thường ở tình trạng thiếu nguyên liệu, chỉ sử dụng hết 50% đến 75% công suất. Hay, nghề mây tre đan ở nước ta hằng năm thường cần 60 - 80 nghìn tấn mây nguyên liệu, thì lại phải nhập khẩu tới 33 nghìn tấn mây, tức là khoảng 41% - 55% số lượng mây nguyên liệu cần thiết. Một số cơ sở sản xuất luôn phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài như trong ngành chế biến điều, chế biến đồ gỗ… Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngược lại là có khi không tiêu thụ hết nguyên liệu, gây khó khăn cho nông dân trồng rừng nguyên liệu ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.

Vì vậy, trong giai đoạn 2011 - 2020, để phát triển công nghiệp chế biến, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu, cần có cơ chế bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người chế biến, với người sản xuất nguyên liệu; ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quá trình phát triển, đồng thời tăng cường sử dụng công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng nông, lâm, thủy sản đã qua chế biến nhằm tăng lợi ích cho các bên tham gia.

5. Cùng với các việc trên cần xây dựng các loại hình thức kinh tế phù hợp trong nông nghiệp.

Kinh tế hộ gia đình hiện nay là loại hình kinh tế phổ biến nhất với gần 10 triệu hộ, chiếm khoảng 98% tổng số lao động và đóng góp 92% giá trị sản xuất nông nghiệp. Khi đất nước tiến hành đổi mới, kinh tế hộ gia đình đã tỏ ra một loại hình kinh tế lý tưởng cần được khuyến khích. Tuy nhiên, đến nay loại hình kinh tế này lại bộc lộ nhiều nhược điểm vì phân tán, ruộng đất manh mún, cản trở việc sử dụng kỹ thuật hiện đại, việc nâng cao chất lượng sản phẩm… Vì vậy, trong giai đoạn 2011 - 2020 cần gắn kinh tế hộ với các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lớn hiện đại trong nông nghiệp và ngoài nông nghiệp để làm chỗ dựa cho loại hình này đi lên sản xuất hàng hóa lớn.

Cần có các chính sách phát triển các trang trại tư nhân lớn trong những vùng, ngành có điều kiện cho phép, khuyến khích phát triển các trang trại tư nhân trong ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại.

Trong điều kiện bình quân ruộng đất ít, đất hoang không còn nhiều, nên khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và sử dụng ít đất.

Đối với hợp tác xã, hiện nay cả nước có 7.592 hợp tác xã, phân bố như sau: đồng bằng sông Hồng chiếm  45,9%; trung du miền núi phía Bắc - 9,54%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam trung bộ - 29,79%; Tây Nguyên - 2,9%; Đông Nam Bộ - 0,79%; đồng bằng sông Cửu Long - 10,08%. Trong thời gian tới, cần củng cố những hợp tác xã sẵn có và phát triển các hợp tác xã mới ở những ngành, vùng còn ít, đặc biệt trong các ngành, vùng có sản xuất hàng  hóa lớn.

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong nông nghiệp hiện chủ yếu là các nông lâm trường quốc doanh. Các công ty nông, lâm nghiệp đang nắm giữ 434.699,94 ha đất nông nghiệp và 3.961.859,7 ha đất lâm nghiệp và sử dụng kém hiệu quả nên cần được sắp xếp đổi mới theo hướng:

+ Cổ phần hóa những doanh nghiệp nông, lâm nghiệp có đủ điều kiện.

+ Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước ở những địa bàn cần thiết.

+ Giải thể những nông, lâm trường quốc doanh, công ty nông, lâm nghiệp yếu kém, sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả.

+ Xác định quy mô ruộng đất tối ưu cho các doanh nghiệp; số đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, rừng dôi ra, giao lại cho địa phương quản lý để thực hiện việc giao đất, giao rừng cho nông dân.

6. Thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2020. Cụ thể, cần thực hiện những chính sách chủ yếu sau đây:

Chính sách đầu tư. Hiện nay tốc độ tăng đầu tư cho nông nghiệp chỉ đạt 3,2% - 3,4%/năm chưa tương xứng với vai trò quan trọng và sự đóng góp của nông nghiệp cho nền kinh tế quốc dân. Tốc độ này cũng còn thấp xa so với tiềm năng của nông nghiệp Việt Nam. Phải hết sức cẩn thận tránh rơi một cách vô ý thức vào chiến lược coi trọng công nghiệp, xem nhẹ nông nghiệp của một số nước trên thế giới đã đưa đến sự không hài hòa phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn vậy, cần tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa cho nông nghiệp, hướng vào nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại trong nông nghiệp, tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất, cho giai đoạn sau thu hoạch, chế biến, bảo quản nông sản cho đến khi đưa đến người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Chính sách tín dụng. Tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với nguồn tín dụng, giải quyết tình trạng luôn thiếu vốn của nông dân, cho nông dân vay kịp thời trong những thời kỳ cần vốn sản xuất để tránh phải bán tháo nông sản với giá thấp, hoặc tránh phải đi vay nặng lãi.

Chính sách thị trường. Ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và trên thế giới; hỗ trợ nâng cao năng lực cho nông dân trong việc tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản; cung cấp đầy đủ và chính xác cho nông dân những thông tin về thị trường; có chính sách gắn kết giữa sản xuất của nông dân với thị trường tiêu thụ.

Chính sách về ruộng đất. Ban hành chính sách thay thế cơ chế thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất bằng cơ chế mua và bán quyền sử dụng đất trên thị trường để hoàn thiện thể chế thị trường trong nông nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nông dân - vốn luôn là người yếu thế trong cơ chế thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất. Hiện nay, ruộng đất không phải là hàng hóa mà quyền sử dụng ruộng đất mới là hàng hóa trao đổi trên thị trường và thị trường quyền sử dụng ruộng đất đang bộc lộ nhiều hạn chế. Vì thế, nên tính đến việc chuyển thị trường quyền sử dụng ruộng, đất nông nghiệp sang thị trường ruộng, đất nông nghiệp thật sự.

Đối với việc tập trung và tích tụ ruộng đất cần phải có bước đi phù hợp, phải dựa vào tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa, để rút lao động ra khỏi nông nghiệp, tuyệt đối không được làm cho nông dân mất đất, thất nghiệp và bần cùng hóa.

7. Bảo vệ môi trường sinh thái trong nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch và hạn chế đến mức tối đa sự tác động từ bên ngoài. Tác nhân gây ô nhiễm môi trường sinh thái trong nông nghiệp có thể chia ra 3 nhóm:

Nhóm thứ nhất: do bản thân sản xuất nông nghiệp gây ra, như: sử dụng không quá mức phân bón hóa học, thuốc phòng trừ sâu bệnh làm cho đất bị cứng (xi măng hóa) và huỷ diệt đa dạng sinh học; áp dụng chế độ canh tác không hợp lý làm xói mòn đất đai, khai thác rừng bừa bãi, phá rừng chuyển sang trồng các cây công nghiệp lâu năm gây lũ lụt, hạn hán, sạt lở triền miên; nuôi trồng thủy sản với lượng thải và chất thải cao làm ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long…

Nhóm thứ hai: do hoạt động của các ngành ngoài nông nghiệp gây ra như đổ bừa bãi các chất thải từ các khu đô thị, khu công nghiệp nhà máy, làng nghề… làm ô nhiễm nguồn nước, giết chết các dòng sông, phá hủy môi trường sinh thái, hủy diệt các loại thủy sinh như đă xảy ra ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Dương, Quảng Ngãi... Việc xây dựng những công trình thủy điện, hồ chứa nước, công trường khai khoáng… không chỉ thu hẹp diện tích rừng, mà còn xả lũ không đúng quy trình công nghệ đã làm thay đổi dòng chảy của các con sông lớn, nhỏ đã gây ra lũ lụt, hạn hán triền miên, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung.

Nhóm thứ ba: do sự biến đổi khí hậu toàn cầu (mà Việt Nam là một trong những nước chịu sức ảnh hưởng nặng), gây ra bão, lũ, hạn hán, nặng nề làm tổn thất lớn cho nông nghiệp.

Suy cho cùng, tất cả các nhóm tác nhân trên đều do con người hoặc ít hoặc nhiều gây ra. Đứng trước thực tiễn đó, để bảo vệ và hoàn thiện môi trường sinh thái trong nông nghiệp, việc giáo dục con người nâng cao ý thức đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái, có cơ chế ràng buộc và xử phạt nghiêm đối với hành vi phá hủy môi trường sinh thái của cá nhân và các tổ chức, ngành và các cấp khác nhau là điều cần thiết và cấp bách.

Cùng với đó, tiến hành sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, sử dụng hợp lý chất hóa học, tiến tới thay thế chất hóa học bằng sinh học, hữu cơ. Cương quyết chấm dứt nạn chặt phá, thu hẹp rừng dưới mọi hình thức. Đẩy mạnh phát triển rừng, trồng rừng và bảo vệ rừng để đạt lại độ che phủ ít nhất 48%. Việc xây dựng các công trình thủy điện, hồ đập, khai khoáng cần được tính toán hết sức khoa học, không được gây tai họa cho môi trường sinh thái nông nghiệp, gây thiệt hại cho dân cư. Chấm dứt sự ô nhiễm gây ra bởi các hoạt động ngoài nông nghiệp. Tích cực tham gia chương trình hạn chế sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tích cực nghiên cứu và chuẩn bị ứng phó đặc biệt khi nước biển dâng./.

 
Nguyễn Trần TrọngGS. TS, Đại học Kinh tế quốc dân

Các tin liên quan:

Facebook chat